Home / Hỏi đáp / Quản lý chất thải y tế tái chế

Quản lý chất thải y tế tái chế

Tái chế chất thải là gì? Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành những sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Việc tái chế chất thải không chỉ có ý nghĩa về […]

  • Tái chế chất thải là gì?

Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành những sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Việc tái chế chất thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế, giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, thu hồi các loại nguyên liệu như nhựa, giấy, kim loại…tránh lãng phí tài nguyên và ngăn ngừa được sự ô nhiễm.

Các nước trên thế giới khuyến khích việc giảm thiểu và tái chế chất thải. Tại Việt Nam, theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014 (điều 6), những hoạt động môi trường được khuyến khích bao gồm giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải; nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải…

  • Chất thải y tế là gì? Có được tái chế chất thải y tế không?

Chất thải y tế bao gồm: chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại. Trong tổng lượng chất thải y tế thì chiếm phần lớn (khoảng 80-90%) là chất thải y tế thông thường, chỉ khoảng 10-20% là chất thải y tế nguy hại (bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm yêu) cần phải được quản lý đúng quy định để bảo đảm an toàn với con người và môi trường. Tuy nhiên, nếu chất thải y tế nguy hại được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường thì an toàn đối với con người và môi trường.

Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo tăng cường tái chế chất thải y tế nhằm mục đích tránh lãng phí, hạn chế gây ô nhiễm môi trường và lợi ích về kinh tế.

  • Cơ sở pháp lý cho hoạt động tái chế chất thải y tế

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP (Điểm b Khoản 5 Điều 49) của Chính phủ quy định “chất thải lây nhiễm sau khi khử khuẩn thì được xử lý như đối với chất thải thông thường bằng phương pháp phù hợp”.

Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về quản lý chất thải y tế phục vụ mục đích tái chế, cụ thể: (1) Chỉ được phép tái chế chất thải y tế thông thường; (2) Khi chuyển giao chất thải lây nhiễm sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường để trở thành chất thải thông thường phục vụ mục đích tái chế, cơ sở y tế phải lưu chứa chất thải này trong bao bì được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế, đồng thời phải ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn giao chất thải phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định; (3) Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm. Tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT cũng đã ban hành danh mục chất thải y tế được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế. Trong đó các chất thải là các chai nhựa đựng thuốc, hóa chất không thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc không có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; các chai nhựa, dây truyền, bơm tiêm (không bao gồm đầu sắc nhọn) không chứa yếu tố lây nhiễm; các vỏ chai, lọ thủy tinh chứa đựng các loại thuốc, hóa chất không thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc không có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất là những chất thải được phép thu gom để phục vụ mục đích tái chế.

Theo như các quy định nêu trên, chất thải y tế thông thường hoặc chất thải y tế nguy hại nhưng đã được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, trở thành chất thải thông thường thì được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế nhưng phải quản lý theo đúng quy định và phải chuyển giao cho đơn vị phù hợp (có đăng ký kinh doanh lĩnh vực phù hợp và phải có văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc bảo đảm các yêu cầu về môi trường).

Theo Luật bảo vệ môi trường, việc quản lý chất thải y tế nói chung và quản lý chất thải y tế để phục vụ mục đích tái chế nếu không đúng quy định thì người đứng đầu cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

  • Trách nhiệm quản lý chất thải y tế thuộc về ai?

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường:

  • Quản lý chất thải y tế bên trong khuôn viên cơ sở y tế thuộc trách nhiệm của thủ trưởng cơ sở y tế
  • Quản lý chất thải y tế bên ngoài khuôn viên cơ sở y tế thuộc trách nhiệm của ngành Tài nguyên và Môi trường và chính quyền địa phương.
  • Về trường hợp bãi rác thải y tế tại thôn Quan Độ thuộc xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Đối với sự việc theo phản ánh của báo VietNamnet về bãi rác thải y tế tại thôn Quan Độ thuộc xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, trách nhiệm chính thuộc về chính quyền địa phương sở tại và cơ quan tài nguyên và môi trường của địa phương.

Đối với trách nhiệm của các cơ sở y tế: phải thực hiện phân loại, thu gom và xử lý chất thải y tế phát sinh từ cơ sở y tế đạt yêu cầu về môi trường trước khi xả ra môi trường. Trường hợp cơ sở y tế không tự tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải y tế, phải hợp đồng chuyển giao chất thải cho cơ sở có tư cách pháp nhân và có giấy phép xử lý chất thải phù hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.

  • Cách giải quyết của ngành y tế trong việc xử lý rác thải y tế

Trong năm 2015, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 58 quy định về quản lý chất thải y tế, trong đó quy định cụ thể về danh mục chất thải y tế nguy hại và danh mục chất thải y tế thông thường được phép thu gom để phục vụ mục đích tái chế.

Đối với rác y tế tại thôn Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cần được xác định rõ thuộc loại chất thải nguy hại hay chất thải thông thường.

– Nếu là chất thải nguy hại, phải chuyển giao cho đơn vị có giấy phép xử lý chất thải nguy hại phù hợp do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp.

– Nếu là chất thải thông thường và trong danh mục chất thải được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế thì phải chuyển giao cho cơ sở có đăng ký kinh doanh lĩnh vực phù hợp và cơ sở này phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi chính thức đưa vào hoạt động hoặc đã được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường trước ngày Nghị định 38/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu có hiệu lực.

  • Về cách gọi “làng ung thư” – tên gọi chưa có cơ sở khoa học và có thể gây ảnh hưởng tiêu cục tới kinh tế, xã hội và tinh thần cho người dân địa phương

Về tên gọi “làng ung thư” là cách gọi nôm na của báo chí, dựa trên kết quả nghiên cứu của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (thuộc Bộ TTMT) thực hiện năm 2015. Trong báo cáo nêu có danh sách một số làng có tỉ lệ người dân mắc và chết do ung thư cao.

Ngay sau khi biết kết quả này, 3 bộ liên quan (Bộ Y tế, Bộ TNMT, Bộ NNPTNT) cùng các cơ quan chức năng đã có cuộc họp xác minh độ tin cậy về mặt khoa học của Báo cáo này và đều thống nhất kết luận:

Phương pháp điều tra, lẫy mẫu và kết luận của Trung tâm này chưa đủ độ tin cậy về mặt khoa học. Chính đại diện Trung tâm cũng xác nhận độ chính xác của việc xác định mắc ung thư do Trung tâm thực hiện chỉ đúng khoảng 40-60%. Còn theo Bệnh viện K Trung ương, độ chính xác tỷ lệ đúng ung thư qua khai báo cao nhất chỉ đến 45%. Vì vậy, việc kết luận danh sách có các làng ung thư là thiếu cơ sở khoa học. Do đó, chúng tôi đề nghị các cơ quan báo chí không sử dụng cụm từ “làng ung thư”, vì sẽ gây hiểu nhầm nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế – xã hội cho người dân tại địa phương.

Cục Quản lý môi trường y tế