Nước sức khỏe và hệ sinh thái

TopFoto.co.uk; UNEP; UNEP/Nuntawan Silp Mối liên hệ giữa nước, sức khỏe và hệ sinh thái Phần lớn Trái Đất được bao phủ bởi nước, và hầu hết cơ thể con người được cấu thành từ nước – hai sự thật hiển nhiên minh họa cho mối liên hệ quan trọng giữa nước, sức khỏe và […]

TopFoto.co.uk; UNEP; UNEP/Nuntawan Silp

Mối liên hệ giữa nước, sức khỏe và hệ sinh thái
Phần lớn Trái Đất được bao phủ bởi nước, và hầu hết cơ thể con người được cấu thành từ nước – hai sự thật hiển nhiên minh họa cho mối liên hệ quan trọng giữa nước, sức khỏe và hệ sinh thái.
Tiêu thụ nước ngọt toàn cầu đã tăng sáu lần giữa năm 1900 và 1995 – là hơn gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng dân số. Tuy nhiên, đối với nhiều người nghèo trên thế giới, một trong những mối đe dọa lớn nhất là không thể tiếp cận với nước sạch và môi trường vệ sinh. Hơn 1 tỷ người trên toàn cầu thiếu điều kiện tiếp cận với nước sạch, và 2,6 tỷ người thiếu vệ sinh đầy đủ; kết quả ước tính 1,7 triệu ca tử vong mỗi năm về các bệnh liên quan đến nước không an toàn, và vệ sinh môi trường.
Không được tiếp cận với đủ nước cũng có thể là một yếu tố quan trọng trong bệnh liên quan đến nước, và có liên quan chặt chẽ với điều kiện hệ sinh thái. Khoảng một phần ba dân số thế giới sống ở các quốc gia đạt mức thiếu nước nghiêm trọng, và các vấn đề khan hiếm nước đang gia tăng, một phần là do sự suy giảm hệ sinh thái và ô nhiễm. Hai phần ba số người trên toàn thế giới có thể sẽ sống trong điều kiện thiếu nước vào năm 2025, nếu mô hình tiêu thụ nước như hiện nay trên toàn cầu còn tiếp tục.
Các hệ sinh thái nước có thể tự bổ sung và làm sạch nguồn nước, điều này rất cần thiết cho sức khỏe con người. Nhưng tính bền vững của các hệ sinh thái đó đã bị tác động bởi sự phát triển và sử dụng đất ngày nay, liên quan đến các việc như: loại bỏ các đầm lầy và vùng đất ngập nước; làm thay đổi các bề mặt dòng nước hoặc dòng chảy; tăng khai thác nước ngầm; ô nhiễm nguồn nước do chất thải và nước thải từ các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, cũng như từ các hộ gia đình và chất thải của con người.
Số lượng và sự đa dạng của các chất làm ô nhiễm hệ thống nước ngọt đã gia tăng kể từ thập niên 1970. Chúng bao gồm không chỉ là các chất ô nhiễm sinh học, như vi sinh vật gây bệnh từ nguồn nước, mà còn các kim loại nặng và các hóa chất tổng hợp, bao gồm cả phân bón và thuốc trừ sâu.
Một số giải pháp
Một cách tiếp cận hệ sinh thái: Các hệ sinh thái tự nhiên có cơ chế phức tạp và linh hoạt, chúng có thể tự lọc, bổ sung nguồn nước ngọt, duy trì môi trường biển. Để duy trì hệ sinh thái tự nhiên và nguồn nước tốt thì việc bảo vệ rừng đầu nguồn là rất quan trọng. Một cách tiếp cận hệ sinh thái là công nhận và tạo giá trị cho chúng, như gán cho chúng giá trị kinh tế. Hệ sinh thái tự nhiên có một một giá trị kinh tế rất lớn là chúng có thể tự cung cấp nước ngọt một cách đều đặn và đảm bảo, tuy nhiên để duy trì được điều đó thì phải thông qua các phương thức bảo tồn và quản lý hiện đại.
Quản lý tài nguyên nước: Những người khác nhau sống trong một lưu vực phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, quản lý tài nguyên nước tổng hợp là điều cần thiết. Những người sống ở hạ lưu sông có thể sử dụng tiềm năng của nước từ thượng nguồn để đáp ứng nhu cầu của họ, như sử dụng phù sa, xây dựng mô hình nông nghiệp, công nghiệp và phát triển tất cả các tiềm năng của tài nguyên nước. Từ đó, một loạt các lĩnh vực có thể phát triển, như nông nghiệp, năng lượng, công nghiệp, thủy sản, du lịch. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương phải lập kế hoạch và phối hợp các chiến lược phát triển trên phạm vi đầy đủ mà không ảnh hưởng đến hệ sinh thái và thủy văn tự nhiên.
Bảo vệ nước khỏi bị nhiễm độc từ các hộ gia đình đến cấp độ toàn cầu: Xử lý cẩn thận các chất thải và bảo vệ sức khỏe từ các nguồn nước bị ô nhiễm là một nguyên tắc quan trọng – từ cá nhân đến cấp độ quốc tế. Nó bao gồm các khâu vệ sinh đơn giản như thực hành rửa tay tốt và an toàn lọc/lưu trữ nguồn nước hộ gia đình; xử lý chất thải tại địa phương và thành phố trên các hệ thống vệ sinh môi trường; và cũng bao gồm các chế độ quy ước toàn cầu về bảo vệ các nguồn nước ngọt và biển từ nước thải, sử dụng tài nguyên không bền vững, và ô nhiễm. Phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng về nước, giám sát chất lượng nước/chỉ số bệnh liên quan đến nước, điều này rất quan trọng để bảo vệ nguồn nước.
Hệ sinh thái ven biển: Một vấn đề được quan tâm đặc biệt
Hơn một phần ba dân số thế giới sống trong vòng 100 km so với bờ biển. Các hệ sinh thái ven biển bao gồm các tính năng như đất ngập nước, vùng cửa sông, rừng ngập mặn, rạn san hô – tất cả trong đó cung cấp yếu tố quan trọng đối với tinh thần và sức khỏe con người. Phạm vi tự nhiên của các nguồn nước ngọt ở vùng đất ngập nước và rừng, cung cấp môi trường sống cho cá và các loài động vật khác để sinh sản và phát triển, đồng thời cũng là nguồn cung cấp thực phẩm của con người. Phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch, giao thông vận tải và các cơ sở công nghiệp quá đà có thể làm mất đi hệ sinh thái ven biển cực kỳ quan trọng đối với con người. Vì vậy, giữ gìn hệ sinh thái ven biển là rất quan trọng đối với sức khỏe và hạnh phúc của con người trong giai đoạn dân số thế giới ngày càng tăng này.

Đạt Thành( theo nguồn: http://www.who.int/heli/risks/water/water/en/)